028.3831.3123

///ĐIỀU KIỆN CẤU THÀNH TỘI VU KHỐNG

ĐIỀU KIỆN CẤU THÀNH TỘI VU KHỐNG

Trong cuộc sống, không ít lần chúng ta gặp phải trường hợp bị người khác xuyên tạc, đặt điều cho bản thân mình hoặc những người xung quanh. Tâm lý chung của đa số những người rơi vào trường hợp như trên sẽ cho rằng đó là hành vi phạm tội Vu khống theo quy định của pháp luật hình sự. Tuy nhiên, để một người có thể bị xem là phạm tội Vu khống, cần phải thỏa mãn đủ các yếu tố được quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS), cụ thể như sau:

  1. Về mặt hành vi: Người phạm tội Vu khống phải có một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS, cụ thể:
  • Có hành vi bịa đặt những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Điểm a khoản 1 Điều 156 BLHS). Hành vi này thể hiện qua việc người phạm tội đã tự đặt ra và loan truyền những điều không đúng với sự thật và có nội dung xuyên tạc sự thật, nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Hành vi này có thể bằng lời nói trực tiếp, bằng tin nhắn đi động hoặc đưa thông tin lên các trang báo, mạng xã hội,…
  • Có hành vi loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (Điểm a khoản 1 Điều 156 BLHS). Hành vi này được thể hiện qua việc người phạm tội tuy không bịa đặt ra những điều không đúng sự thật về người khác và biết rõ điều đó là sai sự thật nhưng vẫn loan truyền điều bịa đặt đó bằng các hình thức như nói cho người khác biết, đưa thông tin lên các trang báo, mạng xã hội,…
  • Có hành vi bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Điểm b khoản 1 Điều 156 BLHS). Hành vi này thể hiện qua việc người phạm tội tự mình bịa đặt ra rằng người khác có hành vi thực hiện một tội phạm nào đó và tố cáo họ trước cơ quan nhà nước, mặc cho người này không phải người thực hiện những hành vi phạm tội đó.
  1. Về khách thể: Các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của con người. Như vậy, cần lưu ý rằng đối tượng bị vu khống không thể là pháp nhân.
  2. Về mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi vu khống với lỗi cố ý.
  3. Về mặt chủ thể: Người phạm tội là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cần lưu ý là người phạm tội thuộc trường hợp quy định ở khoản 1 Điều 156 chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại (hoặc người đại diện của bị hại nếu bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết) có yêu cầu khởi tố hình sự.

Về mức hình phạt: Người phạm tội Vu khống quy định tại Điều 156 BLHS có thể phải chịu một trong các hình phạt chính sau:

  • Phạt tiền lên đến 50.000.000 đồng.
  • Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.
  • Phạt tù đến 07 năm.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung sau: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (không áp dụng khi hình phạt chính đã là phạt tiền), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trên đây là toàn bộ thông tin tư vấn của TP LAW về Điều kiện cấu thành Tội vu khống. Mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề trên, vui lòng liên hệ TP LAW theo thông tin sau để được tư vấn miễn phí: E-mail: thanh.tplaw@gmail.com hoặc Điện thoại:  0903 805 552 hoặc đến trực tiếp trụ sở theo địa chỉ: 203/6/1 Huỳnh Văn Nghệ, P.12, Q.Gò Vấp, TP.HCM.

Xin trân trọng cảm ơn./.

Chuyên viên pháp lý: NGUYỄN HOÀNG THANH TRÚC

2019-06-27T10:41:08+00:00