028.3831.3123

/, Hình sự, ĐỜI SỐNG & PHÁP LUẬT/XỬ LÝ HÌNH SỰ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ CÒN NHIỀU BẤT CẬP

XỬ LÝ HÌNH SỰ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ CÒN NHIỀU BẤT CẬP

Cho vay là một giao dịch dân sự phổ biến trong đời sống xã hội và Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) đã có quy định về mức lãi suất cao nhất khi cho vay. Trong trường hợp cá nhân cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất này nhằm thu lợi bất chính thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, tùy vào tính chất mức độ mà mức hình phạt có thể lên đến 03 (ba) năm tù.

Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều 201 BLHS 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi khách quan của tội cho vay lãi nặng thể hiện ở một trong các hành vi sau:

Trường hợp 1: Cho vay với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên. 

Theo quy định của BLDS (khoản 1 Điều 468) thì lãi suất trong hợp đồng vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.

Như vậy, theo quy định về mức lãi suất tối đa của BLDS, nếu lãi suất cho vay gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất tối đa nói trên, tức là từ 100%/năm trở lên thì hành vi cho vay có dấu hiệu của Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và số tiền thu lợi bất chính có được từ hành vi này phải từ 30.000.000 đồng trở lên. Như vậy, trường hợp cho vay với mức lãi suất từ 100%/năm nhưng thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng thì sẽ không bị coi là phạm tội và cũng không cấu thành tội phạm này nếu không thuộc trường hợp 2 được phân tích sau đây.

Trường hợp 2: Cho vay lãi gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS, thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng hoặc đã bị kết án về tội cho vay lãi nặng, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Tuy nhiên, những quy định về lãi suất trong các văn bản pháp luật còn nhiều bất cập, cụ thể như sau:

Điểm d khoản 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định như sau: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi: “cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay”. Tuy nhiên, từ cuối năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đã bỏ quy định về lãi suất cho vay cơ bản, thay bằng lãi suất trần huy động vốn không quá 13-14%/năm. Do vậy, không thể lấy lãi suất đi vay để áp vào lãi suất cho vay để xác định và xử lý hành vi nói trên.

Hơn nữa Nghị định 167/2013/NĐ-CP chỉ quy định xử phạt đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản mà không có quy định xử phạt đối với hành vi cho vay lãi nặng không có cầm cố tài sản. Điều này dẫn đến việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cho vay lãi nặng lãi rất khó thực hiện. Từ đó dẫn đến việc truy cứu TNHS đối với hành vi cho vay lãi nặng, thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng trong giai đoạn hiện nay hầu như không thể thực hiện được.

Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015, trong trường hợp pháp luật có liên quan có quy định khác về lãi suất thì sẽ áp dụng lãi suất đó cho quan hệ vay thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đó (như các hợp đồng vay vàng, ngoại tệ, vay chính sách xã hội, vay đầu tư phát triển…).

Từ những phân tích trên có thể thấy, để đảm bảo nguyên tắc mọi tội phạm phải được phát hiện, xử lý kịp thời, tránh oan sai, không bỏ lọt “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Điều 201 BLHS năm 2015, cần phải có văn bản hướng dẫn xử lý đối với tội phạm này cũng như cần có hướng dẫn cụ thể về quy định: “trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015.

Chuyên viên pháp lý: PHÙNG NGỌC PHƯỚC

2019-01-25T08:36:15+00:00