028.3831.3123

TRỐN NỢ BẰNG CÁCH BỎ TRỐN KHỎI NƠI CƯ TRÚ CÓ PHẢI TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM ĐỂ CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN?

Trong những năm gần đây, tình hình vay tài sản giữa cá nhân với cá nhân diễn ra khá phổ biến trên cả nước. Để vay được tài sản, giữa người vay và người cho vay chỉ căn cứ vào “lòng tin”, mối quan hệ gia đình, họ hàng, hàng xóm, bạn bè… mà không có bất cứ tài sản hoặc sự ràng buộc nào khác về trách nhiệm trả nợ; thủ tục vay thì đơn giản, nhanh gọn bằng miệng hoặc những tờ biên nhận viết một cách qua loa, không rõ nội dung, không thể hiện hết ý chí của các bên. Ở một góc độ nào đó, các hợp đồng vay tài sản như vậy đã giúp cho nhiều người kịp thời có vốn để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, lợi ích như trên là rất ít, thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp người cho vay không thể, thậm chí không bao giờ lấy lại được tài sản của mình. Hậu quả của sự “dễ dãi” này là các tranh chấp khó giải quyết, trong đó có một phần lỗi của chính người cho vay do lòng tham được trả lãi cao, bỏ qua phần thủ tục cần thiết, không có biện pháp xác minh việc sử dụng tài sản của người vay… Về phía người vay tài sản, khi không có khả năng thanh toán thì họ đưa ra rất nhiều lý do tưởng chừng như rất “hợp lý” để giải trình cho việc sử dụng tài sản đã vay như do làm ăn thua lỗ, người đi vay tiếp tục cho người khác vay để lấy lãi cao hơn…và cuối cùng là họ xin “khất” nợ người cho vay, thậm chí là tìm mọi cách để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ như cắt đứt mọi liên lạc, chuyển chỗ ở, đổi số…Vậy trường hợp bỏ trốn khỏi nơi cư trú để trốn tránh việc trả nợ có cấu thành nên hành vi tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay chưa?

Hành vi bỏ trốn của người phạm tội phải được xem xét một cách khách quan, toàn diện. Nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc tránh mặt người cho vay vì nguyên nhân khác thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản (như bỏ đi để làm ăn kiếm tiền trả nợ…). Việc xác định một người bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn đủ các dấu hiệu như: đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi ở, nơi tạm trú, nơi làm việc một cách bí mật không ai biết; việc bỏ trốn có mục đích nhằm không thực hiện trách nhiệm trả lại tài sản đã vay, mượn, nhận đượcCăn cứ xác định bỏ trốn là tài liệu xác minh người đó không có mặt, không khai báo việc chuyển nơi ở với cơ quan nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú; Tài liệu xác minh, lời khai của bố, mẹ, vợ, chồng, con, người thân khác không biết người này bỏ đi đâu làm gì; tài liệu xác minh vắng mặt, không đến làm việc tại nơi làm việc.

Tuy nhiên, thực tiễn để định tội danh này lại không hề đơn giản, việc cho rằng người vay đi khỏi nơi cư trú, tắt hoặc đổi số điện thoại rồi cho đó là bỏ trốn thì hoàn toàn sai lầm, dễ dẫn đến oan sai. Có người viện dẫn: “Nếu không bỏ trốn, mắc gì phải rời khỏi địa phương đi nơi khác?”. Theo tôi, đây là quyền của họ, không thể nói rời khỏi nơi cư trú là bỏ trốn được. Còn nếu nói tại sao anh không đăng ký tạm trú thì đó cũng chẳng qua là vi phạm nghĩa vụ hành chính. Không phải vì anh vi phạm hành chính mà khởi tố hình sự được. Thậm chí vì bị đòi nợ quá, người ta hoảng nên cố tình lẩn tránh một thời gian để đi làm ăn nhưng ý thức của họ không phải nhằm chiếm đoạt tài sản thì cũng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Vì vậy, chỉ có thể xử lý hình sự về tội này khi nào chứng minh đủ hai yếu tố “bỏ trốn” và “có mục đích chiếm đoạt”. Nếu người vay bỏ trốn với mục đích khác như để tránh sự đe dọa của chủ nợ, để đến nơi khác làm ăn lấy tiền trả nợ hoặc để kéo dài thời hạn trả nợ thì dù có dấu hiệu bỏ trốn nhưng không chứng minh được yếu tố chiếm đoạt tài sản thì cũng không thể xử lý hình sự về tội lạm dụng theo Điều 140 Bộ luật Hình sự. Điều này cũng giải thích vì sao đa phần Đơn tố giác tội phạm của người dân khi gửi đến cơ quan công an đều được cơ quan này giải thích đây chỉ là quan hệ dân sự và yêu cầu người dân nên nộp đơn kiện đến Tòa án. Sự “dấp dính” giữa quan hệ dân sự và quan hệ hình sự trong các hợp đồng vay tài sản kiểu như vậy là rất khó phân định, mà đôi khi, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự hay hình sự đều không phản ánh đúng bản chất của vụ việc, chỉ một chi tiết hoặc dấu hiệu nào đó sẽ dẫn đến “hình sự hóa” các quan hệ dân sự và ngược lại, do đó rất cần sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền.

Chuyên viên pháp lý: VÕ VƯƠNG KHÁNH TRÌNH